Thị trường tín chỉ carbon Việt Nam – Bài 2: Hoàn thiện “mảnh ghép” pháp lý

Một khung chính sách nhất quán, sự hỗ trợ tài chính dài hạn và năng lực kỹ thuật đủ mạnh là những yếu tố nền tảng, giúp các doanh nghiệp và nhà đầu tư tự tin tham gia vào thị trường tín chỉ carbon.

Bài báo phản ánh tiến trình xây dựng và hoàn thiện thị trường carbon tại Việt Nam trong bối cảnh quốc gia đang chuẩn bị vận hành thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon vào cuối năm 2026, tiến tới vận hành chính thức và kết nối với thị trường quốc tế từ năm 2029. Thông qua cuộc trao đổi giữa KTSG Online và PGS.TS Nguyễn Hồng Quân – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Tuần hoàn (ICED), bài viết làm rõ cả những nỗ lực đáng ghi nhận lẫn các thách thức lớn về thể chế, pháp lý và kỹ thuật mà Việt Nam đang đối mặt.

Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, xét về mặt thời gian, lộ trình từ khi manh nha ý tưởng phát triển thị trường carbon (giai đoạn 2022–2023) đến kế hoạch vận hành thí điểm sàn giao dịch vào cuối năm 2026 là tương đối ngắn. Điều này cho thấy quyết tâm của Chính phủ và các cơ quan quản lý trong việc sử dụng công cụ tài chính carbon như một giải pháp hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, nếu so sánh với các quốc gia đã sớm áp dụng cơ chế định giá carbon như thuế carbon hay hệ thống mua bán phát thải (ETS), Việt Nam vẫn đang đi chậm và có khoảng cách khá xa.

Một trong những hạn chế lớn hiện nay là khung pháp lý cho thị trường carbon vẫn chưa hoàn thiện. Việt Nam chưa có quy định chính thức về định giá tín chỉ carbon, mà mới chỉ dừng ở mức dự thảo nghị định với các nguyên tắc và phương pháp xác định giá khởi điểm. Điều này khiến các tổ chức, doanh nghiệp thiếu cơ sở thống nhất để định giá và giao dịch. Bên cạnh đó, cơ chế chia sẻ lợi ích từ tín chỉ carbon, đặc biệt là tín chỉ carbon rừng, còn phân tán và thiếu đồng bộ. Nghị định 107 chỉ áp dụng cho một số thỏa thuận như ERPA, trong khi dự thảo nghị định mới chỉ nêu nguyên tắc chung về quản lý và sử dụng nguồn thu. Ngoài ra, hạ tầng kỹ thuật cho thị trường như hệ thống đăng ký quốc gia, sàn giao dịch carbon và việc tích hợp carbon rừng vào kiểm kê chính thức vẫn chưa hoàn chỉnh.

Để sàn giao dịch tín chỉ carbon có thể vận hành thí điểm đúng kế hoạch, PGS.TS Nguyễn Hồng Quân cho rằng cần ưu tiên xây dựng hệ thống dữ liệu nền (baseline) cho các nhóm chủ thể tham gia thị trường. Trong đó, cần phân định rõ bên bán là các cá nhân, tổ chức triển khai dự án giảm phát thải, hấp thụ và lưu giữ carbon, và bên mua là các doanh nghiệp có nghĩa vụ bù trừ phát thải. Giai đoạn thí điểm sẽ tập trung vào ba ngành công nghiệp có mức phát thải lớn nhất là sắt thép, xi măng và nhiệt điện, hiện chiếm hơn 70% tổng phát thải của ngành công nghiệp Việt Nam.

Trong các kịch bản bù trừ hạn ngạch phát thải ở mức 10% hoặc 20% bằng tín chỉ carbon, vai trò mua – bán của các ngành có thể thay đổi. Ngành thép có thể là bên bán trong kịch bản bù trừ thấp, nhưng trở thành bên mua khi tỷ lệ bù trừ tăng lên. Ngành nhiệt điện, do mức phát thải rất cao, sẽ chủ yếu đóng vai trò bên mua, trong khi ngành xi măng có khả năng trở thành bên bán nhờ đầu tư công nghệ giúp nâng cao hiệu quả và giảm phát thải.

Bài báo cũng chỉ ra rằng việc thực hiện “Đóng góp do quốc gia tự xác định” (NDC) của Việt Nam hiện chưa đi kèm với một chiến lược tài chính rõ ràng để khuyến khích đầu tư công và tư nhân. NDC cũng chưa tích hợp đầy đủ các mục tiêu xã hội và phát triển quốc gia, gây khó khăn trong việc huy động nguồn lực và triển khai trên thực tế.

Về quy định trần chuyển nhượng tín chỉ carbon trong giao dịch quốc tế (10–20%), PGS.TS Nguyễn Hồng Quân cho rằng nếu áp dụng cứng nhắc sẽ hạn chế tiềm năng doanh thu của doanh nghiệp, nhưng nếu nới lỏng hoàn toàn sẽ làm suy giảm động lực đổi mới công nghệ và giảm phát thải. Do đó, cần có cách tiếp cận linh hoạt, phân biệt theo ngành nghề và mức độ sẵn sàng chuyển đổi xanh, coi các mức trần hiện nay là giải pháp tạm thời và có thể điều chỉnh theo quá trình thực thi và đánh giá thực tiễn.

Vân Phong